X5 - 2k8-2k12

9/5»Ñ†Þ
 
Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng Nhập  

Share | 
 

 Những hậu vệ huyền thoại trên sân cỏ thế giới

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
lxhung97
Ăn mày
avatar

Tổng số bài gửi : 11
Reputation : 0
Join date : 20/05/2010
Age : 19
Đến từ : nha tau

Bài gửiTiêu đề: Những hậu vệ huyền thoại trên sân cỏ thế giới   Thu May 20, 2010 8:32 pm

Trong bóng đá cổ điển, hậu vệ có vai trò đơn điệu là cắm chốt ở phần sân nhà, ngăn cản không cho đối phương làm bàn. Sự hiện diện của họ trong trận đấu là rất dễ nhận ra, nhưng chủ yếu bị coi là những con người âm thầm không nổi danh. Người ta thường tụng ca các chân sút chứ hiếm khi tôn vinh hàng phòng ngự. Nhưng rồi, bóng đá thay đổi…

Dần dần, khái niệm hậu vệ không chỉ gói gọn vào những cú tắc, phá đường chuyển, nhảy lên tranh chấp bóng theo kiểu 50-50 nữa. Họ trở thành những cầu thủ khéo léo hơn và mang tố chất điền kinh nhiều hơn để đóng một vai trò không thể thiếu trong cả chiến thuật tấn công của toàn đội.
Một số hậu vệ chẳng khác gì “máy nổ”, những “người không phổi” hoạt động chóng mặt ở hai bên cánh, cung cấp các đường chuyền kiến thiết lợi hại vào vòng cấm địa. Một số khác thậm chí còn sẵn sàng bó vào giữa, chơi như tiền vệ trong khi vẫn luôn sẵn sàng lùi về thực hiện nhiệm vụ chính là phòng ngự khi đối phương có bóng.

Bóng đá hiện đại ngày càng chứng kiến sự linh hoạt hơn của hậu vệ. Và danh sách các gương mặt huyền thoại dưới đây chính là những cầu thủ phòng ngự đi tiên phong cho cuộc cách mạng đó. Nói một cách khác, họ là những hậu vệ luôn hướng về phía trước. Đừng ngạc nhiên khi danh sách này không phải là Top 10 như thường lệ mà là “chẵn chòi” một đội hình tới 11 huyền thoại. Lí do đơn giản: Thật khó loại bỏ một ai trong số họ!


1. Nilton Santos
ĐT Brazil (1940-1976)
Botafogo (1940 - 1976)
So với huyền thoại lừng danh đồng hương Carlos Alberto Torres, Santos ít tiếng tăm hơn. Thế nhưng ông là một hậu vệ trái hoàn hảo và được đánh giá rất cao với tài dắt bóng, kỹ thuật siêu hạng nhưng vẫn sở hữu các cú tắc bóng mạnh mẽ, chuẩn xác. Ngoài ra, biệt danh của Santos là “Bách khoa toàn thư” bởi ông có kiến thức về bóng đá rất sâu rộng.

Santos là một trong những hậu vệ đầu tiên khai phá khái niệm tấn công, mở rộng phạm vi bên ngoài phần sân nhà như quan điểm chung thời đó. Ông có một bàn thắng để đời trong lịch sử World Cup khi dắt bóng gần hết chiều dài sân, khéo léo sút tung lưới Áo năm 1958.

Nilton Santos cùng với người cùng họ là Djalma Santos tạo thành bộ đôi ấn tượng trong hàng phòng ngự, là chỗ dựa vững chắc cho Brazil giúp vũ điệu samba xóa đi ấn tượng về một tuyến dưới thủng lỗ chỗ trước đó. Santos cùng Brazil đoạt 2 chức vô địch World Cup (1958 và 1962), 1 danh hiệu Copa America còn với Botafogo, ông chơi 1.004 trận, 6 lần đoạt danh hiệu Campeonato Carioca và vô địch giải Rio/Sao Paulo 3 lần.

Sau khi giải nghệ, Santos mới thực sự được tôn vinh xứng đáng khi hiện diện trong đội hình Xuất sắc nhất thế giới của thế kỷ 20 của cuộc bình chọn uy tín do Mastercard tài trợ. Muộn, nhưng hoàn toàn xứng đáng với những đóng góp của ông cho sự phát triển của vai trò hậu vệ trong bóng đá hiện đại.

2. Bobby Moore
ĐT Anh (1958-1978)
West Ham (1958-1974), Fulham (1974-1977), San Antonio Thunder (1976), Seattle Sounders (1978)
Ông không phải là mẫu hậu vệ lực lưỡng. Cũng không phải là người nhanh nhẹn nhất trên sân. Nhưng thay vào đó, Moore có khả năng đọc trận đấu siêu đẳng, khóa chặt đối phương như gọng kìm và tham gia tích cực vào tấn công. Ông trở thành mẫu hậu vệ chơi bóng bằng đầu tiêu biểu và nhận được những lời ca tụng từ Pele, một đánh giá rất cao.

Không những thế, Moore nổi bật với vai trò thủ lĩnh mà minh chứng cụ thể là World Cup 1966 khi ông dẫn dắt ĐT Anh lên đỉnh cao thế giới lần đầu tiên (và cũng là duy nhất cho đến tận bây giờ). Trong trận chung kết lịch sử với Tây Đức, Moore chứng tỏ ông không chỉ biết phòng ngự khi kiến tạo bàn đầu tiên cũng như bàn thứ 4 ấn định vinh quang.

Ở cấp CLB, Moore cũng thành công không kém khi là yếu tố chính giúp West Ham đoạt Cúp FA năm 1974 và sau đó ông có thêm chiếc Cúp C2 năm 1975. Tuy nhiên, bên cạnh hình ảnh đầy kỷ luật trên sân, người ta còn biết đến một Moore tai tiếng thích la cà tại các hộp đêm và tửu lượng kha khá. Mặc dù vậy, sáng hôm sau, ông vẫn luôn có bộ mặt tươi tỉnh và đến khu tập luyện của đội từ rất sớm. Một bức tượng của Moore đặt trang trọng phía ngoài SVĐ Wembley nói lên tất cả.

3. Giacinto Facchetti

ĐT Italia (1960-1978)
Inter Milan (1960 - 1978)

Xương sống của kỷ nguyên “La Grande Inter”. Ông chơi được mọi vị trí ở hàng phòng ngự. Từ cánh trái, kỹ thuật dắt và chuyền bóng của Facchetti cùng tầm hoạt động không mệt mỏi là một phần không thể thiếu trong các phương án tấn công của Inter. Facchetti cũng chơi trung vệ rất tốt với chiều cao, những cú tắc bóng hoàn hảo biến ông thành ác mộng của mọi tiền đạo. Không những thế, huyền thoại này còn thính nhạy trong việc ghi bàn mà cụ thể là 59 bàn trong sự nghiệp cho Inter Milan và 3 bàn cho ĐTQG.

Chính phong cách tấn công mới mẻ mà Facchetti thể hiện ở vị trí hậu vệ trái đã làm sửng sốt một Serie A luôn đặt nặng phòng ngự. Ông góp công không nhỏ giúp Inter đoạt 4 Scudetto, 1 Coppa Italia và những chiếc cúp châu Âu liên tiếp năm 1964, 1965. Trong 94 lần khoác áo Thiên Thanh (một kỷ lục thời đó) thì 70 lần, Facchetti đeo băng đội trưởng). Ông tham dự 3 kỳ World Cup mà thành tích tốt nhất là ngôi Á quân thế giới năm 1970. Trước đó, Facchetti đã được nếm hương vị ngọt ngào của chức vô địch EURO 1968 trên sân nhà.

Ấn tượng hơn nữa, Facchetti là mẫu hậu vệ fair-play đến hoàn hảo khi cả sự nghiệp chỉ một lần bị nhận thẻ đỏ. Sau khi giải nghệ, Facchetti tiếp tục gắn bó với bóng đá và Inter Milan trong vai trò quan chức CLB (được bầu làm Chủ tịch năm 2004). Ông mất vì ung thư tuyến tụy và để tôn vinh ông, Inter Milan treo vĩnh viễn chiếc áo số 3 của Facchetti.

4. Carlos Alberto Torres
ĐT Brazil (1963-1982)
Fluminense (1963-1966, 1974-1977), Santos (1966-1974), Flamengo (1977), New York Cosmos (1977-1980, 1982), California Surf (1981)

Nhắc đến Brazil là người ta nghĩ ngay đến các tài năng tấn công thượng đẳng như Pele, Zico hay Garrincha. Thế nhưng Torrres đã làm thay đổi cách nghĩ thông thường đó. Là hậu vệ cánh nhưng bên cạnh những phẩm chất phòng ngự chuẩn mực, xuất sắc, ông còn là cầu thủ tấn công hiệu quả, thậm chí còn ghi 8 bàn cho Brazil.

Carlos Alberto chính là mẫu hậu vệ tiên phong cho một định nghĩa mới về họ: nguy hiểm trong tấn công chẳng kém trong phòng ngự

Đóng góp ấn tượng nhất của Torres là ở World Cup khi ghi được một bàn thắng thuộc loại kinh điển vào lưới Italia trong trận chung kết. Quan trọng hơn cả, dù đồng đội xung quanh là một dàn sao với những tên tuổi như Pele, Clodoaldo, Gerson, Roberto Rivelino…, chính Torres là người đầu tiên tự hào giơ cao chiếc cúp thế giới với vai trò đội trưởng.

Ở giải quốc nội, Torres cũng gặt hái vô số danh hiệu với 3 chức vô địch Campeonato Carioca cùng Fluminese, 2 lần vô địch Paulista Championship cùng Santos và khi phiêu lưu sang Mỹ, ông bổ sung thêm 4 chiếc cúp NASL với Cosmos. Torres chính là mẫu hậu vệ tiên phong cho một định nghĩa mới về họ: nguy hiểm trong tấn công chẳng kém trong phòng ngự.

5. Franz Beckenbauer
ĐT Đức (1964-1983)
Bayern Munich (1964-1977), New York Cosmos (1977-1980, 1983), Hamburg (1980-1982)
“Hoàng đế”, chỉ biệt danh đó thôi đủ nói lên nhiều điều. Beckenbauer là cầu thủ Đức vĩ đại nhất trong lịch sử, một nhận định chẳng ai dám bàn cãi. Không ai có tên tuổi gắn liền được với vinh quang như ông.

Beckenbauer là đầu tàu của một số đội hình vĩ đại nhất trong lịch sử bóng đá khi ông khoác áo Bayern Munich. Cùng với những tên tuổi huyền thoại khác là Sepp Maier và Gerd Muller, Beckenbauer đoạt 4 chức vô địch Bundesliga, 4 Cup Liên đoàn bóng đá Đức (DFB), 1 Cúp C2 và đáng kể nhất là 3 Cúp C1 liên tiếp từ 1973 đến 1976. Thậm chí khi rời Bayern Munich, vinh quang vẫn tiếp tục theo chân ông. Beckenbauer đoạt thêm 1 chức vô địch Bundesliga cùng Hamburg năm 1982 và 3 chức vô địch NASL với Cosmos ở Mỹ.

Hoàng đế, chỉ biệt danh đó thôi đủ nói lên nhiều điều. Beckenbauer là cầu thủ Đức vĩ đại nhất trong lịch sử


Đấu trường quốc tế còn chứng kiến “Hoàng đế” rực rỡ hơn. Beckenbauer là đội trưởng Tây Đức vô địch EURO 1972 và World Cup 1974. Đặc biệt, trận chung kết năm 1974 là màn trình diễn có lẽ xuất sắc nhất sự nghiệp của ông. Khi đó, Tây Đức bị coi là lép vế trước một “cơn lốc màu Da Cam” của Johan Cruyff đang trình diễn thứ bóng đá tổng lực hớp hồn thế giới. Nhưng Beckenbauer, Berti Vogts và các tuyển thủ Đức đã “trói” thành công “Thánh Johan”, khiến Hà Lan chỉ có được 1 bàn từ chấm phạt đền (thua Tây Đức 1-2).

Beckenbauer không chỉ là một người chiến thắng. Ông còn là một người tiên phong, làm thay đổi khái niệm về hậu vệ khi sản sinh ra vị trí “libero”. Sau này, rất nhiều đội bóng học tập theo mô hình libero của “Hoàng đế” và không ít tên tuổi cũng nổi danh như Scirea và Baresi của Italia hay Lothar Matthaus của Đức (cũng góp mặt trong danh sách này). Nhưng tất cả đều chung kết luận: Chỉ có một và chỉ một Beckenbauer mà thôi!

Giải nghệ, Beckenbauer tiếp tục là một nhân vật đầy ảnh hưởng với bóng đá Đức và hiện đang là Chủ tịch Bayern Munich và Phó Chủ tịch DFB. Tên ông thường xuất hiện trên báo chí đi kèm những lời phê phán một loạt cầu thủ hay HLV Đức. Và với những gì đã đạt được, ông có thừa quyền chỉ trích đó…
6. Elias Figueroa

ĐT Chile (1964-1982)

Union La Calera (1964), Santiago Wanderers (1965-1966), Penarol (1967-1972), Internacional (1972-1976), Palestino (1977-1980), Ford Lauderdale Strikers (1981), Colo-Colo (1982)
Đây là cái tên luôn đứng đầu danh sách các cuộc bình chọn “Cầu thủ vĩ đại nhất Chile mọi thời đại”. Không chỉ được tôn vinh trong nước, Figueroa cũng nhận được sự ca tụng trên thế giới với các danh hiệu “Cầu thủ xuất sắc nhất Nam Mỹ” các năm 1974, 1975 và 1976. Cũng năm 1976, ông còn được FIFA bình chọn là “Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới”.


Biệt danh là “Don Elias”, Figueroa chơi ở vị trí trung vệ nhưng tầm ảnh hưởng lại rộng khắp sân, đặc biệt trong vai trò thủ lĩnh đội bóng. Ông dẫn dắt Chile ở 3 kỳ World Cup liên tiếp từ 1966 và dù ĐT này không lần nào vượt qua vòng 1, ấn tượng nhất là Figueroa được bình chọn là “Hậu vệ hay nhất” của World Cup 1974. Danh hiệu đó đủ nói lên nhiều điều.

7. Gaetano Scirea

ĐT Italia (1972-1988)

Atalanta (1972-1974), Juventus (1974-1988)
Nói đến Italia là nói đến những hậu vệ lừng danh thế giới. Nhưng nổi nhất trong hàng ngũ đó thì chính là Scirea. Sự xuất sắc của Scirea buộc một hậu vệ huyền thoại khác là Franco Baresi phải ngậm ngùi ngồi ngoài, không có chỗ trong ĐTQG mãi đến năm 1986, khi sự nghiệp Scirea sắp bước vào hồi kết.

Cũng là một hậu vệ thòng nhưng Scirea không có khuynh hướng tấn công như “Hoàng đế” Beckenbauer, cũng không quá chú trọng vào phòng ngự như Baresi. Ông là sự tổng hợp của cả hai phong cách trên, nhuần nhuyễn giữa khả năng bảo vệ khung thành nhà lẫn công phá khung thành đối phương. Scirea ghi tới 24 bàn trong thời gian khoác áo Juventus và 2 bàn cho ĐT Italia.

Nhưng điều đáng kể nhất, Scirea nổi tiếng khắp làng túc cầu thế giới về phong cách chơi đẹp, chưa bao giờ bị thẻ đỏ hay treo giò trong suốt sự nghiệp. Đó là một thành tích quá ấn tượng nếu căn cứ vào vai trò khó khăn mà Scirea giữ trên sân cỏ.

Scirea có ít danh hiệu tưởng thưởng cá nhân nhưng ai theo dõi lịch sử bóng đá cũng đều hiểu tầm quan trọng của ông với ĐT Italia và CLB. Ông đoạt 7 Scudetto cùng Juventus, 2 Cúp Italia, 1 Cúp UEFA, 1 Cúp C3, 1 Cúp C1. Bộ sưu tập này giúp Scirea gia nhập nhóm ít ỏi những cầu thủ đoạt mọi danh hiệu quốc nội và quốc tế ở cấp CLB. Ông cũng là nhà vô địch World Cup 1982.

Scirea chết bi thảm trong một tai nạn giao thông không lâu sau khi giải nghệ.

8. Franco Baresi

ĐT Italia (1977-1997)

AC Milan
Giống như Beckenbauer, Baresi đưa vai trò libero lên khái niệm hoàn hảo trong hai thập kỷ gắn bó với AC Milan. Nhưng khác với Beckenbauer, Baresi tập trung hơn vào nhiệm vụ phòng ngự, bảo bọc cho hàng tiền vệ và ngăn chặn đối phương đang lăm le xâm nhập vòng cấm địa.

Nói như vẫn không có nghĩa Baresi hiếm khi lên tấn công. Song, nổi bật nhất trong cách chơi của ông là phòng ngự và thu hồi bóng. Baresi có một sự nghiệp rực rỡ với Milan, đoạt 6 Scudetto, 3 Cúp C1 và 4 Siêu Cúp Italia. Trên đấu trường quốc tế, Baresi cũng có tên trong danh sách Thiên Thanh vô địch World Cup 1982 nhưng khi đó ở tuổi 22, ông là dự bị cho Scirea và không được sử dụng. Phải đến World Cup 1990, Baresi mới thực sự có chân ở ĐTQG. Ông là đội trưởng Thiên Thanh thua Brazil trong trận chung kết World Cup 1994 và chính là một trong những người đá hỏng ở loạt luân lưu (dù sau đó, Baresi không bị chỉ trích dữ dội như “tội đồ” Roberto Baggio).

Ảnh hưởng lớn nhất của Baresi với lịch sử hậu vệ được thể hiện qua người kế tục là Paolo Maldini, cũng có tên dưới đây.

9. Lothar Matthaus


ĐT Đức (1979-2000)

Borussa Monchengladbach (1979-1984), Bayern Munich (1984-1988, 1992-2000), Inter Milan (1988-1992), New York/New Jersey Metrostars (2000)
Được xem là người “thừa kế” của libero hay nhất thế giới Beckenbauer, Matthaus có cách chơi tương tự, giành phần lớn thời gian cho khu vực giữa sân. Với khả năng chuyền và sút siêu hạng, ông thực sự là một mũi nhọn đáng gờm cho hàng công mà biểu hiện cụ thể bằng 184 bàn trong sự nghiệp.

Nhưng không chỉ tấn công, Matthaus còn phòng ngự xuất sắc với nhiệm vụ thường xuyên là khóa ngôi sao hay nhất của đối phương. Ở World Cup 1986, trong trận chung kết, Matthaus đã chơi tuyệt hay trong khi ngăn cản “Cậu bé vàng” Diego Maradona không cho tỏa sáng. Dù Argentina sau đó vẫn thắng, Maradona đã thừa nhận rằng Matthaus chính là đối thủ hay nhất ông từng gặp.

Dù dừng bước trước vinh quang năm 1986 đó, Matthaus có nhiều dịp khác để ăn mừng. Ông đoạt 7 đĩa bạc Bundesliga (đều cùng Bayern Munich), 3 Cúp Đức, 1 Scudetto và 2 Cúp UEFA. Matthaus cũng được tôn vinh “Quả bóng Vàng” năm 1990 và “Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới” của FIFA năm 1991. Ông dẫn dắt Tây Đức vô địch World Cup 1990. Cộng thêm chức vô địch EURO 1980, Matthaus có mọi danh hiệu quốc nội và quốc tế, ngoại trừ Cúp C1/Champions League. Đó là sự kém hoàn hảo một cách thiếu may mắn khi 2 lần, Matthaus thua trong các trận chung kết Cúp C1/Champions League (trước Porto năm 1987 và trước M.U năm 1999). Dù sao, vinh quang và thành tựu của ông cũng khiến mọi cầu thủ khác phải ghen tị.

10. Paolo Maldini

ĐT Italia (1984-)

AC Milan
Cũng như người dẫn dắt mình là Baresi, Maldini chơi trọn đời ở San Siro. Và câu chuyện Baresi-Maldini có thể coi là cuộc kế tục hoàn hảo trong lịch sử bóng đá. Maldini cũng giữ vai trò đội trưởng CLB, là một trụ cột truyền cảm hứng và mang tính biểu tượng. Nhưng quan trọng nhất, Maldini cũng rất thành công.

Công việc lau chùi những chiếc cúp đoạt được chắc hẳn làm Maldini phải mất nhiều sức lực. Huyền thoại này có 7 Scudetto, 1 Coppa Italia, 4 Siêu Cúp Italia, 5 Champions League, 1 World Club Championship. Năm 1994, Maldini trở thành hậu vệ đầu tiên được nhận danh hiệu “Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới” do tạp chí World Soccer bình chọn.

Chơi linh hoạt, hoàn hảo ở cả vị trí hậu vệ trái lẫn trung vệ, Maldini là chốt chặn hay nhất thế giới thời của mình. Sau khi Baresi giải nghệ, Maldini chủ yếu chơi ở trung tâm hàng phòng ngự ở cả AC Milan lẫn ĐT Italia. Hiện Maldini vẫn là cầu thủ nhiều lần khoác áo ĐTQG nhất với 126 lần, trong đó 74 lần đeo băng đội trưởng (cũng là 1 kỷ lục).

11. Roberto Carlos

ĐT Brazil (1990-)
Uniao Sao Joao (1990-1993), Palmeiras (1993-1995), Inter Milan (1995-1996), Real Madrid (1996-2007), Fenerbahce (2007-)
Tiếp tục phát huy truyền thống những hậu vệ cánh xuất sắc do bóng đá Brazil sản sinh, Carlos vẫn đang miệt mài trên sân cỏ dù đã ở đoạn cuối sự nghiệp.

Anh xây dựng thương hiệu cho mình trong lịch sử bóng đá như là một chân sút phạt siêu hạng, ghi nhiều bàn quan trọng cho cả CLB lẫn ĐTQG. Người ta sẽ nhớ mãi đến “vật thể bay lạ” trong trận gặp Pháp từ khoảng cách 30 mét làm một thủ môn lừng danh như Fabien Barthez phải bàng hoàng. Những đường bay tuyệt vời đó mang dấu ấn rất riêng. Sau này, nhiều chuyên gia sút phạt khác cũng học tập cách đá của Carlos mà điển hình là Cristiano Ronaldo.

Dù tỏa sáng ở mọi màu áo từng khoác, Carlos cũng có một sự nghiệp khá nhiều tranh cãi. Anh bị báo chí Brazil bêu riếu khi không kèm Thierry Henry ở World Cup 2006 vì bận…sửa sang lại tất! Henry tranh thủ thời cơ, ghi bàn duy nhất và Carlos phải chịu mọi chỉ trích. Hay vụ buông lỏng cho Roy Makaay ghi bàn thắng sớm ở vòng knock-out Champions League 2006-2007 khiến Real Madrid tan tành hy vọng. Tuy nhiên, những ví dụ kể trên chỉ cho thấy một điều là không ai hoàn hảo cả. Carlos vẫn xứng đáng có tên trong những hậu vệ huyền thoại mọi thời đại.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
 
Những hậu vệ huyền thoại trên sân cỏ thế giới
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
X5 - 2k8-2k12 :: Giải trí :: Club thể thao-
Chuyển đến